KỸ THUẬT SẢN XUẤT PHÂN VI SINH

Ở Việt Nam, phân VSV cố định đạm cây họ đậu và phân VSV phân giải lân đã được nghiên cứu từ năm 1960 và đến năm 1987 phân Nitragin trên nền chất mang than bùn mới được hoàn thiện và đến năm 1991 đã có hơn 10 đơn vị trong cả nước tập trung nghiên cứu phân vi sinh vật. Các nhà khoa học đã phân lập được nhiều chủng vi sinh vật cố định đạm và một số VSV phân giải lân.

Hiện nay trên thị trường có nhiều loại phân VSV khác nhau, nhưng theo mật độ VSV hữu ích có thể chia làm 2 loại như sau:

– Phân VSV có mật độ VSV hữu ích cao (trên 108 tế bào/gam) và do chất mang được thanh trùng nên VSV tạp thấp.

– Phân VSV có mật độ VSV hữu ích thấp (106-107 tế bào/gam) và VSV tạp cao do nền chất mang không được thanh trùng.

Quá trình sản xuất phân vi sinh theo 2 giai đoạn chủ yếu:

Giai đoạn 1: Tạo nguyên liệu cho sản xuất còn gọi là chất mang. Chất mang được dùng là các hợp chất vô cơ (bột photphorit, bột apatit, bột xương, bột vỏ sò,..) hay các chất hữu cơ (than bùn, bã nấm, phế thải nông nghiệp, rác thải,..). Chất mang được ủ yếm khí hoặc hiếu khí nhằm tiêu diệt một phần VSV tạp và trứng sâu bọ, bay hơi các hợp chất dễ bay hơi và phân giải phần nhỏ các chất hữu cơ khó tan.

Giai đoạn 2: Cấy vào nguyên liệu trên các chủng vi sinh vật thuần khiết trong điều kiện nhất định để đạt được hiệu suất cao. Mặc dù VSV nhỏ bé nhưng trong điều kiện thuận lợi: đủ chất dinh dưỡng, có độ pH thích hợp, CO2 và nhiệt độ môi trường tối ưu chúng sẽ phát triển cực kỳ nhanh chóng (hệ số nhân đôi chỉ 2-3giờ); Ngược lại trong điều kiện bất lợi chúng sẽ không phát triển hoặc bị tiêu diệt, dẫn đến hiệu quả của phân bị giảm sút. Để cho phân vi sinh được sử dụng rộng rãi, người ta thường chọn các chủng vi sinh có khả năng thích nghi rộng hoặc dùng nhiều chủng trong cùng một loại phân.

Như vậy, quy trình sản xuất phân vi sinh trước tiên là tạo thành phân mùn hữu cơ cao cấp. Tùy từng địa phương và cơ sở sản xuất cụ thể mà lựa chọn nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ cao cấp khác nhau như than bùn, mùn rác thành phố (phân rác lên men), phân bắc (hầm cầu), phân gà công nghiệp, phân heo, trâu, bò, dê,..hoặc phân từ nguồn phế thải của quá trình chế biến của các nhà máy như mía, mụn dừa, vỏ trái cây, .. Nói chung là đi từ nguyên liệu nào có thể biến thành mùn. Sau đó là quá trình phối trộn, cấy các chủng vi sinh vào mùn.

Phân phức hợp hữu cơ vi sinh được sản xuất từ phế thải của nhà máy đường theo công nghệ của FITOHOOCMON được Bộ Khoa học và công nghệ cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích về Quy trình sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh, như sau:

– Giai đoạn lên men nguyên liệu: Nguyên liệu là bùn mía, tro lò, than bùn được lên men tạo thành mùn hữu cơ cao cấp

– Giai đoạn phối trộn và cấy vi sinh vật hữu ích: Phối trộn theo công thức định sẵn tùy theo yêu cầu chất lượng phân và cấy VSV thuần khiết vào môi trường mùn hữu cơ.

Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ nguồn nguyên liệu mụn dừa rất phong phú ở Bến Tre là phế thải của các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa. Quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ mụn dừa được mô tả như sau:

– Giai đoạn sản xuất giá thể (đất sạch): Nguyên liệu mụn dừa được xử lý để giảm hàm lượng muối (giảm EC) và giảm hàm lượng Tanin. Sấy hoặc phơi khô, sau đó được phối trộn với chất dinh dưỡng chậm tan và chất phụ gia. ép đóng thành bánh hoặc đóng bao để dễ dàng vận chuyển.

– Sản xuất phân bón: Chế phẩm vi sinh gốc được nhân sinh khối, sau đó được tưới đều vào nguyên liệu mụn dừa. ủ hảo khí để có nguyên liệu bán thành phẩm.

– Từ mụn dừa bán thành phẩm sẽ phối trộn các vi sinh vật hữu ích để có được sản phẩm phân hữu cơ vi sinh.

Vỏ trái ca cao cũng là đề tài nghiên cứu sản xuất phân bón và thức ăn cho bò đang được thực hiện trong giai đoạn thử nghiệm mô hình.

Ở quy mô hộ gia đình cũng có thể sản xuất phân hữu cơ vi sinh có mật độ thấp nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu phân bón bằng cách tận dụng rác thải, phân chuồng ủ thành đống một thời gian thành mùn (phân compost), sau đó trộn với vi sinh để bón cho cây trồng. Tạo đống ủ bằng cách đào lỗ (nơi không ngập nước) hoặc khoanh liếp tre như ví lúa… Nguyên liệu cần được chặt hoặc bằm, xay nhỏ càng tốt. Tưới dung dịch E.M (chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu) cho đều, thử độ ẩm thích hợp bằng cách bóp nguyên liệu ủ trong nắm tay vừa ướt, vón cục nhưng không chảy nước. Nén chặt và đậy đống ủ bằng bao bố cũ hoặc đậy lá chuối và dùng bùn phủ lên một lớp mỏng. Giữa đống ủ cắm một khúc cây để thăm dò nhiệt độ đống ủ, đồng thời để bổ sung ẩm (bù lượng nước hao hụt trong những ngày khô hạn). Khoảng một tháng có thể vỡ ra, trộn lại đống ủ và bổ sung dung dịch E.M, ủ tiếp (có thể thêm phân đạm, lân hòa với nước). Chế phẩm vi sinh vật hiện nay tương đối dễ tìm và rẻ là E.M có bán ở Viện Khoa học Nông nghiệp, các Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ,… Đối với các nguyên liệu có khả năng tạo thành chất chua như bả đậu, hèm rượu, thạch dừa hư… thì nhất thiết phải được bổ sung vôi để khử chua và hạn chế tạp khuẩn, đồng thời bổ sung chế phẩm vi sinh thường xuyên để phân huỷ nhanh và cạnh tranh với men tạp.

Ở một số nơi, người ta còn ngâm các nguồn nguyên liệu hữu cơ giàu đạm trong nước (cá vụn, bánh dầu,..) để một thời gian tưới cho cây trồng, cây kiểng. Làm như vậy gây ô nhiễm môi trường vì mùi hôi, ruồi, dòi… tác động xấu đến không khí xung quanh, làm dơ nguồn nước. Nên ngâm trong vật chứa kín và mỗi tháng pha với dung dịch EM bán trên thị trường tỷ lệ 1/1.000, nếu có thể sử dụng thêm chế phẩm protease (men phân huỷ protein) thì thời gian phân huỷ được rút ngắn và đạm trong nước tưới dễ tiêu hơn.

Trong điều kiện các loại vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm đang ngày càng có nguy cơ phát tán như H5N1, bệnh heo tai xanh… Chúng ta nên hạn chế cách ngâm trong nước và tuyệt đối không ngâm súc vật chết mà phải chôn trong đất, có khử trùng bằng vôi hoặc hóa chất khử trùng mạnh hơn.

Phân hữu cơ vi sinh thật gần gũi vì nguồn nguyên liệu hữu cơ luôn có chung quanh nhưng cũng thật lạ lẫm vì nguồn vi sinh khó tiếp cận! Không sao cả vì hiện nay các chế phẩm vi sinh ngày càng phổ biến như Tricoderma có hoạt tính xenlulaza cao (phân huỷ chất xơ), chế phẩm EM gồm 80 loài vi sinh vật có ích đang có bán ở nhiều nơi.

ỨNG DỤNG HỆ THỐNG TƯỚI NƯỚC TỰ ĐỘNG THEO CÔNG NGHỆ ISRAEL

Với tình hình khí hậu diễn biến phức tạp thì việc ứng dụng hệ thống tưới nước thông minh đang giúp con người khắc phục khí hậu từng vùng miền, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm sức lao động, nâng cao năng suất cây trồng và hơn hết hướng người dân đến nền sản xuất nông nghiệp hiện đại.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thiết bị tưới nước, với hình thức tưới khác nhau, dẫn đến tình trạng nhiều bà con khó lòng xác định được đâu là hệ thống, thiết bị phù hợp nhất đối với nhu cầu cây trồng, và trong khả năng đầu tư của mình. Nắm bắt được điều này Công ty Cổ phần nông nghiệp hiện đại Tiến Nông đã đưa đến cho bà con nông dân bộ sản phẩm hệ thống tưới nước tự động theo công nghệ ISRAEL ứng dụng tưới nhỏ giọt trên diện rộng cho nhiều loại cây trồng khác nhau.

Ứng dụng hệ thống tưới nước tự động theo công nghệ ISRAEL

Hệ thống tưới nhỏ giọt cung cấp nước tưới, phân bón, chất dinh dưỡng trực tiếp tới gốc cây, giúp rễ cây hấp thụ hiệu quả, không lãng phí nước và điều chỉnh được lượng nước tưới phù hợp tùy vào từng thời điểm cụ thể.

Với hệ thống này người nông dân tiết kiệm được chi phí đầu vào khá nhiều, tiết kiệm nguồn nước tưới, thời gian bón phân, từ đó tiết kiệm được tiền thuê nhân công. Hệ thống cung cấp nước và chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây giúp cây phát triển khỏe mạnh, cho năng suất và sản lượng cao.

Bên cạnh đó công ty CP nông nghiệp hiện đại Tiến Nông cũng cung cấp Hệ thống tưới nhỏ giọt ứng dụng cho qui mô nhỏ: HT Tưới nhỏ giọt Gia đình (FDS™). Hệ thống đồng bộ tưới tự chảy bằng trọng lực. Không cần máy bơm, bồn nước cao 1m là đủ áp lực tưới. Hoà phân bón trực tiếp vào trong bồn nước Áp dụng cho hộ nông dân diện tích nhỏ 500-1000m2.

Thành công từ những mô hình sử dụng hệ thống tưới nước tự động đối với từng loại cây trồng
Tưới nhỏ giọt là biệp pháp hạn chế rủi ro cho vườn Cafe tái canh vì sử dụng thuốc BVTV định kỳ qua hệ thống tưới nhỏ giọt là biện pháp rất hiệu quả để ngăn ngừa và kiểm soát tuyến trùng, nấm, virus và các tác nhân khác trong đất gây bệnh hại rễ cây Cafe.

Nhờ ứng dụng thành công hệ thống tưới nước tự động theo công nghệ ISRAEL mà nền nông nghiệp nước ta phát triển theo theo xu thế hiện đại, hướng phát triển áp dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất. Phương pháp này được áp dụng cả trong các mô hình nhà kính tự động, nhà lưới, ngoài vườn ươm, các vườn cây, trang trại rộng lớn. Điều này đã và đang mang lại nhiều lợi ích và hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân.